Thứ bảy, 09 22nd

Last updatethứ 7, 22 09 2018 4pm

Lịch sử - Văn hóa

Cha Vô Danh: Những ngày vui sống ở Hà Nội 1948-1951 (P. 11)

"Ba năm trôi qua trong cảnh sống yên bình ở Hà Nội, ba năm phẳng lặng để nghỉ ngơi bù lại ba năm sóng gió lao đao nay đây mai đó. Ba năm thật ngắn ngủi, nhưng là một quãng đời đáng ghi nhớ vì là thời gian gây dựng lại một gia đình trên những đổ vỡ của quá khứ."

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.

."De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015

 

 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20-

 

 ***

 Những ngày vui sống ở Hà Nội 1948-1951

(Chuyện kể của người mẹ)

Mợ đã kể con nghe về trường hợp con ra đời như thế nào, mợ cũng muốn kể tiếp về trường hợp mợ lấy cậu như thế nào, nhưng cậu đã kể rồi, mợ chỉ muốn nói thêm là nghĩ lại thì đúng là vợ chồng phải có duyên số mới thành được. Nếu không có chuyện đi tản cư, nếu trên đường đi không bị rắc rối ở trạm kiểm soát Việt Minh, chắc là mợ đã chẳng lấy cậu. Không phải mợ chê cậu, cậu là người tốt và hiền, nhưng lúc đó mợ vẫn còn vết thương lòng chưa lành hẳn nên chẳng thiết gì đến việc lập gia đình nữa. Vả lại, mợ cũng đâu muốn lấy một người đàn ông đã có vợ.

Nhưng mà ai cũng có số cả, cái số của mợ gian truân thì phải chịu thôi. Nhưng cuối cùng mợ không hối hận đã nhận lời lấy cậu.

Cậu đã kể con nghe những ngày sống vất vả nhưng thật hạnh phúc ở Phú Thọ và Phúc Yên. Cậu đã nhắc đến chuyện mợ tập cách bắt cua đồng như thế nào, mợ cũng chịu khó cho cua kẹp đau nên bắt được khá nhiều. Nhưng cậu chưa kể chuyện mợ lên đồi sim. Mùa sim chín, mợ ăn thỏa thích tại chỗ rồi mang về cả rổ. Lúc đó mợ đang nghén em Vy, ăn cơm không được, nhưng lại rất thích ăn sim. Mợ cứ nghĩ, con mình trong bụng cũng được thưởng thức món sim này, sau này phải gọi nó là "bé Sim" mới phải!

Khi rời Phúc Yên về đến trạm kiểm soát của Pháp ở Hà Nội, mọi sự đều trôi chảy dễ dàng, dù cả gia đình không ai có giấy tờ gì cả. Đó là nhờ mặt con thấy rõ là lai Tây, trong khi lúc ra đi mợ suýt nguy kịch cũng vì cái mặt Tây lai của con, cậu đã kể chuyện này rồi. Trông con lúc đó thật ngộ nghĩnh, một đứa bé 4 tuổi mặc bộ quần áo nâu kiểu người dân quê, nhưng mặt mày thì rõ ràng là một đứa trẻ con Tây chẳng có tí gì là dân quê cả!

Con được một cơ quan xã hội của chính quyền Pháp lo cho con, và cả gia đình cũng được hưởng lây. Sau một thời gian ngắn ở trong một trung tâm dành cho người hồi cư để làm giấy tờ tạm, khám sức khỏe, cho quần áo lương thực, họ tìm cho gia đình mình một chỗ ở tươm tất. Đó là một căn phòng trên lầu ba một ngôi nhà gần hồ Ha-le (i).

Đây là một khu phía nam của trung tâm thành phố Hà Nội, khi ấy còn là ngoại ô, gần khu Khâm Thiên nổi tiếng về cô đầu. Nhưng mới chân ướt chân ráo về mà được ở trong một "nhà tây" ở khu đó là quá sướng rồi. Căn phòng khá rộng với tiện nghi điện nước, mợ như được sống lại những năm thời con gái ở Sài Gòn.

Ngôi nhà có cả một cái sân thượng rộng rãi, vài năm sau có người bạn có máy ảnh đến chụp cho cả gia đình trên sân thượng này, mợ còn giữ được mấy tấm ảnh mờ ảo vì hôm đó trời u ám lại mới tạnh mưa, đó là những hình ảnh duy nhất còn giữ lại của chỗ ấy.

  050518_3

Trên sân thượng nhà gần hồ Halais, tác giả và em gái; hình chụp ngày 16-9-1950

Mợ tìm được việc làm nhanh chóng trong cơ quan "anh tăng đăng" (ii) của Pháp may quần áo cho quân đội, nhờ giấy giới thiệu của cơ quan xã hội đã đón tiếp gia đình mình lúc mới về. Mợ làm trong một cái xưởng, chỉ là một căn nhà rất rộng có mấy chục cái máy may, mỗi người may một vài thứ đã được cắt sẵn, rồi có người khác ráp lại thành quần áo lính. Làm việc kiểu dây chuyền không có gì hấp dẫn cả, nhưng trong lúc mới hồi cư về Hà Nội mà có được việc làm như thế là quý quá rồi. Vả lại, sau mấy năm sống trôi nổi vô định, có một việc làm như thế làm cho mợ yên tâm mình đã trở lại cuộc sống bình thường.

Mỗi ngày có chiếc xe cam-nhông nhà binh đưa đón mợ đi làm, xe lượn một vòng đón tất cả mọi người vì sở làm cũng khá xa trung tâm thành phố. Xe có bốn hàng ghế, hai hàng hai bên thành xe, hai hàng ở giữa đâu lưng vào nhau, có cầu thang sắt để lên xuống vì xe cao lắm. Cũng nhờ đi xe chung như vậy mà mợ từ từ làm quen với nhiều người cùng hoàn cảnh, về sau có vài người thành bạn thân.

Đó là trường hợp cô N., chắc con còn nhớ. Cô cùng hoàn cảnh với mợ, có đứa con gái cũng lai Pháp, rất xinh, thua con một tuổi. Cô có chồng trong quân đội Pháp, khi chồng về Pháp cô ở lại Hà Nội với con gái, sau này cô lấy một người Việt có hiệu ảnh trong khu trung tâm Hà Nội làm ăn cũng khá lắm. Mợ với cô N. rất thân nhau, đến chơi nhau luôn, và con cũng thích chơi với con gái của cô. Trông hai đứa con trai con gái cùng lai Pháp thật hợp với nhau, mợ và cô N. thì thầm nếu sau này mình thành thông gia thì chắc là thích lắm. Nói thì nói vậy thôi, thời buổi loạn ly nay đây mai đó biết tương lai ra sao mà ước hẹn như thời bình được. Sau này gia đình mình vào Sài Gòn, lúc đầu còn thơ từ qua lại, dần dần mất liên lạc, không biết gia đình cô N. có di cư vào Nam năm 1954 hay không.

Phần mợ như thế, còn phần cậu con khó tìm việc hơn. Xoay mãi không tìm được việc gì, chẳng lẽ ngồi không mãi, cậu đành theo lời khuyên của hai người bạn cùng làng đã đăng lính Pháp từ ít lâu trước, cậu cũng đăng lính trong ba năm. Quân đội Pháp thời đó không đủ người từ Pháp qua nên tuyển người Việt để bổ sung. Cậu chẳng đặng đừng mới phải làm như thế vì trước kia, năm 1945 cậu cũng đã từng tham gia "cách mạng mùa thu" rồi. Nhưng với trách nhiệm chủ gia đình 4 miệng ăn, và sắp sửa là 5 khi em con ra đời, thôi cậu cũng đành!

Ba năm trôi qua trong cảnh sống yên bình ở Hà Nội, ba năm phẳng lặng để nghỉ ngơi bù lại ba năm sóng gió lao đao nay đây mai đó. Ba năm thật ngắn ngủi, nhưng là một quãng đời đáng ghi nhớ vì là thời gian gây dựng lại một gia đình trên những đổ vỡ của quá khứ. Mợ sinh em Vy rồi gần hai năm sau sinh em Loan, thế là nhà mình đã tăng lên gấp rưỡi, từ 4 người tăng thành 6! 

 050518_2

Hai anh em ở Hà Nội, 1950

Cậu con trong hai năm đầu ít khi phải đi xa, nên hay đưa con đi chơi. Có lần xảy ra một chuyện tuy nhỏ nhặt nhưng mợ giận cậu mãi. Hôm đó chủ nhật cậu mượn được chiếc xe đạp "cuốc" muốn chở con đi chơi một vòng. Mợ không muốn cho đi vì xe không có "poóc-ba-ga" để con ngồi đằng sau, cũng không có "gác-đờ-bu" (iii) để che bùn hay nước bắn lên quần áo. Hơn nữa xe "cuốc" là phải phóng nhanh mới đúng kiểu, chở con đi mà phóng nhanh thì nguy hiểm quá. Cậu bảo không sao, đi một vòng cho con nó biết mùi xe "cuốc" thôi mà! Thế là cậu đặt con ngồi lên thanh ngang phía trước yên xe, hai chân cùng vắt một bên, rồi phóng đi…

Mợ ở nhà trong lòng nóng như lửa đốt, không biết có chuyện gì xảy ra hay không. Y như rằng, lát sau thấy cậu hớt hải về bế con trên tay, con khóc nức nở, chân máu me be bét! Mợ hoảng quá, la khóc um sùm, cậu bảo không sao đâu, nó bị kẹt chân vào bánh trước xe đạp, trầy trụa sơ thôi, không có gì trầm trọng cả. Nhưng không phải "trầy trụa sơ" như cậu nói, mà vết thương khá sâu vì bị mấy cây tăm của bánh xe đang quay nhanh nghiến nát da thịt.

Cả tháng trời, mỗi ngày mợ nấu một thau nước ấm cho thuốc tím vào để con ngâm chân, mỗi lần như thế con khóc ròng vì ngâm như thế vết thương đau lắm. Hồi đó làm gì có trụ sinh để ngăn ngừa nhiễm độc, chỉ có viên Dagenan (iv) tán ra thành bột rắc lên vết thương rồi băng bó lại. Cái băng cũng phải giặt để dùng đi dùng lại không biết bao nhiêu lần. Nhưng vết thương không những không lành mà còn càng ngày càng loét sâu thêm. Cuối cùng sợ quá, đành phải đưa con đến nhà thương, bị bác sĩ la rầy là tại sao để lâu như thế mới mang con vào. Ngày xưa có một vấn đề tâm lý trầm trọng là rất sợ phải đưa người thân vào nhà thương, vì cứ nghĩ nếu vào nhà thương là bịnh nặng lắm rồi, nên cứ chữa trị vớ vẩn ở nhà, có khi gần chết rồi mới đưa vào nhà thương. Trường hợp vết thương ở chân con, chỉ đi nhà thương có mấy lần là từ từ khỏi, nhưng hậu quả là con còn giữ một cái sẹo dài phía ngoài bàn chân phải! 

 050518_4

Cha dượng và mẹ tác giả, Hà Nội 1950

Ngoài những chuyện như thế, cuộc sống ở Hà Nội thời đó trôi đi nhẹ nhàng, những ngày vui sống ở thủ đô thanh lịch.

Đến mùa nhập học năm 1950, cơ quan xã hội của Pháp lo xin cho con đi học ở trường Sainte Marie là một trường bà sơ (v). Mợ cũng không biết tại sao họ lại xin cho con học ở đấy, vì mợ tưởng trường bà sơ dành cho con gái. Nhưng đây là một trường nổi tiếng của Hà Nội nên mợ rất mừng con được học ở đấy.

Khi mợ dắt con đến trường với giấy tờ của cơ quan xã hội, bà sơ hiệu trưởng trách mợ là sao không cho con đi học từ trước, để đến 6 tuổi rồi mới đi học là trễ quá. Thật ra mợ có biết gì đâu, vì cơ quan xã hội lo việc học cho con nên mợ yên tâm để họ lo. Vì đây là năm đầu con đến trường nên được xếp vào lớp 12ème, nhưng vì con đã biết đánh vần tiếng Việt, tức là biết nhận mặt chữ rồi, nên được vài tuần thì trường cho con lên lớp 11ème cho đúng với tuổi của con (vi).

Chỉ ít lâu sau con bắt đầu được cái "mề-đay" vào cuối tuần, chứng tỏ là con học giỏi. Các bà sơ có cách khuyến khích học trò là khi giỏi về một bài gì đó thỉ được một "bon point" tức là một "điểm tốt" ghi trên một tấm bìa nhỏ. Cuối tuần, nếu được bao nhiêu điểm tốt như thế thì đổi lấy một cái "mề-đay" giống như huy chương trong quân đội đeo lủng lẳng trước ngực. Cái này chỉ cho mượn vào ngày cuối tuần thôi, thứ hai vào phải trả lại cho bà sơ. Thế là ngày chủ nhật cậu mợ mặc quần áo đẹp cho con, đeo cái huy chương vào ngực rồi đi ra bờ hồ Hoàn Kiếm ăn kem. Thưởng con học giỏi được ăn kem đã đành, nhưng trong thâm tâm mợ cũng muốn khoe với bà con qua lại là con mình học giỏi có cái huy chương đeo trên ngực!

Thấm thoát hết ba năm đăng lính của cậu con, cậu không muốn tiếp tục ở trong quân đội Pháp nữa, nhất là từ cuối năm 1950 chiến trận lan tràn, cậu cũng phải tham gia, tuy chỉ với tư cách là hậu cần mà cũng rất nguy hiểm (1).

Cậu mợ tính đến chuyện vào Nam để tránh chiến sự ngoài Bắc, càng ngày càng có dấu hiệu quân Pháp kém thế. Ngày xưa bà và mợ đã sống cùng ông Phó trong Sài Gòn nên còn quen biết nhiều người làng ở đấy. Mợ viết thơ cho bà em ruột của ông Phó, có chồng là ông C. làm thầu khoán ở Sài Gòn, nghe nói làm ăn khá giả lắm. May quá ông C. đang cần người tín cẩn để lo sổ sách kế toán cho ông ấy, thế là cậu mợ quyết định hè năm 1951 dọn nhà vào Sài Gòn. Di chuyển vào mùa hè cho con không bị gián đoạn việc học. 

 050518_5

Bà ngoại

Cả gia đình về thăm quê làng Hà Hồi chào ông bà Phó và tất cả người quen ở đấy trước khi ra đi. Và ông Phó cũng lên Hà Nội thăm gia đình mình, và nhất là thăm con vì ông Phó thương con lắm, bồng bế con từ khi con mới sinh ra cho đến khi nhà mình đi tản cư mới không sống chung nữa.

Không ngờ đấy là lần cuối cùng mình gặp ông Phó.

_____________________________

(i) Hồi đó tiếng Pháp là hồ Halais, bây giờ là hồ Thiền Quang, nằm giữa bốn đường phố, đặc biệt đường Nguyễn Du có hàng cây hoa sữa ngát thơm vào mùa thu.

 (ii) Tiếng Pháp là Intendance, cơ quan của quân đội Pháp lo về thức ăn, quần áo, xe cộ, v.v…

 (iii) "Cuốc" là từ tiếng Pháp "course", có nghĩa là "đua". Ngày xưa xe đạp loại này bánh to (bánh 700 thay vì 650 của xe đạp thường), và lốp xe rất nhỏ. "Poóc-ba-ga" (porte-bagages) phía sau dùng để chở đồ đạc, nhưng cũng dùng để đèo thêm một người nữa. "Gác-đờ-bu" (garde-boue) là cái vè bọc phía trên bánh xe để ngăn không cho nước trên đường văng lên trên người.

 (iv) Dagenan là tên thương mại của chất sulfapyridine, một loại sulfamide rất thông dụng thời đó. Từ khi có các loại trụ sinh (hay kháng sinh = antibiotiques) thì các loại sulfamides không còn được dùng nữa.

 (v) Trường Sainte Marie Hà Nội là một trường nổi tiếng của các nữ tu dòng Saint Paul de Chartres, sáng lập từ năm 1896 nằm trên Boulevard Rollandes, nay là phố Hai Bà Trưng. Hiện nay là bịnh viện Việt Nam – Cu Ba ở số 37 Hai Bà Trưng. Ở Sài Gòn có trường Saint Paul ở đường Cường Để cũng của dòng nữ tu này.

 (vi) Cấp tiểu học của Pháp thời xưa bắt đầu bằng lớp 12ème tuơng đương với lớp mẫu giáo, rồi lên 11ème tương đương với lớp 1 hiện nay. Cứ thế các con số thụt lùi, lên bậc trung học khi đến số 1 (lớp Première), vì hết số phải thêm lớp « terminale » có nghĩa là « lớp cuối cùng » chấm dứt bậc trung học, tương đương với lớp 12.

 (1) Cho đến năm 1949, cuộc kháng chiến chống Pháp chỉ có tầm vóc nhỏ, và chưa có dấu hiệu gì sẽ có ngày thành công. Nhưng khi Mao Trạch Đông toàn thắng trên lục địa Trung Hoa năm 1949, đẩy Tưởng Giới Thạch ra đảo Đài Loan, Trung quốc trở thành hậu cứ lớn của lực lượng Việt Minh được huấn luyện bên Trung Quốc và trang bị vũ khí cũng như quân trang quân dụng của Trung Quốc và Liên Xô.

Đó là kết quả chuyến đi bí mật của ông Hồ Chí Minh kéo dài gần ba tháng vào đầu năm 1950 qua Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa. Tại đây, ông gặp Stalin và Mao Trạch Đông (lúc đó đang thăm viếng Liên Xô) và thuyết phục được Liên Xô và Trung Quốc công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giúp huấn luyện và cung cấp vũ khí quân trang quân dụng cho quân đội. Ngược lại ông cũng được khuyến cáo của hai nhà lãnh đạo cộng sản Liên Xô và Trung Quốc phải tiến hành nhanh chóng cuộc cách mạng ruộng đất. Sau này cuộc cải cách ruộng đất (phát động từ năm 1953 được thực hiện dưới sự chỉ đạo của cố vấn Trung Quốc có mặt tại chỗ) nằm trong kế hoạch đã được vạch ra từ chuyến đi 1950 này.

Có thể nói là từ thời điểm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp dần dần biến thành cuộc chiến tranh ý thức hệ với sự can thiệp của cường quốc thuộc hai khối thù địch trên thế giới, khối "cộng sản" và khối "tự do" (hay "tư bản" nói theo kiểu của cộng sản).

 Và thất bại lớn đầu tiên của Pháp vào cuối năm 1950 trên đường số 4 dọc biên giới Việt Trung đã mở đầu cho một giai đoạn mới của cuộc chiến, chấm dứt với trận Điện Biên Phủ báo hiệu sự cáo chung của chế độ thuộc địa Pháp.

footer_banner_5