Thứ tư, 08 22nd

Last updateThứ 3, 21 08 2018 1am

Lịch sử - Văn hóa

Cha Vô Danh: Hòn đảo định mệnh (P. 4)

 

"Nghĩ tới đây, tôi cảm thấy trào dâng trong lòng một niềm thương vô hạn đối với mẹ tôi, một tình cảm tôi chưa từng có trước đây. Nhưng đã quá trễ, vì mẹ tôi đã ra người thiên cổ từ nhiều năm rồi. Tôi đã sống suốt cuộc đời mình mà chẳng khi nào đặt câu hỏi là mẹ mình có cảm xúc gì khi mang nặng đẻ đau ra mình không."

 

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.

 

"De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015

 

 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20- 21- 22- 23- 24-

25- 26- 27- 28- 29- 30- 31- 32- 33- 34- 35- 36- 37- 38- 39- 40- 41- 42- 43- 44- 45- 46- 47- 48-

 

 

 

***

 

Hòn đảo định mệnh

(Trích nhật ký của Long)

 

Tháng 12-2006

 

Chiếc phi cơ Airbus tiến dần vào chỗ đậu, đi qua một dãy nhà vòm cũ kỹ của quân đội Mỹ ngày xưa để lại, chắc là nhà để cất chứa chiến đấu cơ hồi đó. Cũng lạ, chiến tranh đã chấm dứt hơn ba chục năm rồi mà những vết tích đã hoen rỉ này vẫn còn đây. Ngày xưa Tân Sơn Nhứt vừa là phi trường dân sự, vừa là phi trường quân sự, ngay sát cạnh căn cứ không quân Phi Long, chỉ cách trung tâm Sài Gòn có mấy cây số.

 

Bước ra khỏi cửa phi cơ để chui vào cái ống dẫn khách vào nhà ga, một luồng khí nóng quen thuộc phả vào mặt, kéo tôi về lại không khí của mấy chục năm trước. Cuối năm rồi mà Sài Gòn vẫn nóng quá, trong khi ở phi trường Charles de Gaulle, Paris thì lạnh run… Cái áo khoác dày cộm cầm trên tay tôi trở thành lạc lõng trong cái Sài Gòn nóng bức này!

 

Vào đến bên trong nhà ga, máy lạnh chạy hết cỡ làm tôi sực nhớ tới ngày xưa, khi bước vào rạp Rex cũng có cảm giác như bây giờ. Rạp Rex ở trung tâm Sài Gòn khánh thành năm 1962, khách vào đấy vừa để xem xi-nê, vừa để hưởng cái không khí lạnh "tối tân" thời bấy giờ!

 

Chỉ có vài người đứng xếp hàng trước tôi ở ghi-sê công an xét hộ chiếu, vậy mà cũng phải chờ khá lâu. Khi tới phiên mình tôi mới hiểu, người công an mang cấp bậc trung tá – hai sao hai vạch, tôi ngạc nhiên vì cấp bậc cao như thế mà ngồi đây kiểm soát hành khách, thường chỉ là thượng úy hay đại úy thôi – tay cầm hộ chiếu mắt nhìn màn hình chăm chú, không biết vì phải đọc nhiều thứ quá hay vì hệ thống liên lạc bị chậm, sốt cả ruột… Cuối cùng tôi cũng thở phào khi cám ơn anh công an trả lại tôi cuốn hộ chiếu kèm theo một câu chúc bặt thiệp. Tôi có cảm giác dễ chịu là nhân viên làm việc ở cửa ngõ của nước mình càng ngày càng lịch sự hơn.

 

Năm năm trước, tôi đã phải ở lại chỗ này hơn bảy tiếng đồng hồ mới ra gặp được các em các cháu đến đón chờ ngoài đường. Dĩ nhiên, đó là trường hợp đặc biệt vì tôi bị công an từ Sài Gòn lên "làm việc". Mười bốn năm trước thì ngược lại, thời gian tổng cộng trong phi trường chỉ độ mươi phút, vì một anh chàng hải quan học trò cũ của cậu em rể dẫn tôi qua chỗ công an kiểm soát hộ chiếu và hải quan kiểm soát hành lý mà không cần xếp hàng gì cả!

 

Gặp lại Vy và Hoài tay bắt mặt mừng. Hai vợ chồng đứng chờ ở ngoài đường, sau dãy rào cản bằng sắt. Nhà ga cũ nhỏ quá không có chỗ cho thân nhân chờ khách tới, nhà ga mới chưa thấy đâu. Người ta phải đứng ngoài đường, nắng chang chang hay mưa như trút nước cũng vậy. Và thân nhân thì đông lắm, có lẽ phải gấp mười lần số hành khách quốc tế đến đây. Đa số là Việt kiều về thăm quê hương, thăm gia đình, đi du lịch. Những người trước kia ra đi không hy vọng ngày về, bị xem là "ôm chân đế quốc", nay trở thành "khúc ruột ngàn dặm" và được ân cần mời về, mang theo tiền để giúp gia đình, để đi du lịch. Tốt hơn nữa là mang tiền về đầu tư.

 

Vy là em gái thua tôi bốn tuổi. Em cùng mẹ khác cha, nhưng chẳng khác gì anh em ruột. Vy rất thân với tôi từ nhỏ. Từ ngày tôi ra đi, Vy là gạch nối liên lạc với gia đình còn lại ở Việt Nam.

 

Hoài là một nhà văn phản kháng được biết đến nhiều ở hải ngoại. Gốc ở Huế, năm 1966 đã bị chính quyền ở đấy cầm tù mấy tháng vì tội tham gia phong trào của sinh viên chống đối chính phủ Nguyễn Cao Kỳ. Năm 1974, đang dạy văn một trường trung học ở Bảo Lộc, Hoài hoạt động bí mật cho Mặt trận Giải phóng trong giới giáo chức và phụ huynh học sinh, rồi được kết nạp vảo đảng Cộng sản. Khi miền Bắc chiến thắng năm 1975, Hoài phụ trách đoàn thanh niên của tỉnh. Nhưng cũng như nhiều trí thức khác sống với lý tưởng, Hoài thất vọng trước thực tế phũ phàng của những đảng viên ở mọi cấp lạm dụng chức vụ để hưởng lợi cho cá nhân mình. Hoài lại trở thành phần tử phản kháng với những bài viết và hành động đòi dân chủ, tự do. Lần này giá phải trả nặng nề hơn nhiều so với mấy tháng tù năm 1966: Hoài bị khai trừ đảng, kéo theo mất việc làm, bị bao vây kinh tế, bị công an gọi lên gọi xuống làm việc cả tháng trời, và cuối cùng bị quản chế hai năm, một hình thức "tù tại gia". Vợ vẫn tiếp tục dạy học, nhưng bị kỳ thị vì chồng có án, và cuối cùng phải nghỉ hưu non.

 

Nhưng đó là chuyện từ hơn mười năm trước. Giờ đây, hai vợ chồng đã dễ thở hơn, và đến đón tôi với chiếc Honda. Cứ gọi chung là Honda, thật ra là một chiếc xe của Trung Quốc cũ mèm, rẻ tiền. Ngay gần đó là một đoàn xe "ôm" mời khách. Vy gọi một chiếc taxi thay vì đi xe ôm vì cái va-li của tôi hơi to.

 

Chuyến về lần thứ ba này đã dự tính sẽ đi cùng với hai vợ chồng một vòng thăm đất nước. Hai chuyến trước chỉ quanh quẩn ở nhà, lần đầu về thăm bà cụ bị tai biến mạch máu não, lần sau về khi bà cụ mất.

 

Nhưng trước khi đi du lịch, đầu tiên tôi cũng về Bảo Lộc (trên đường Sài Gòn – Đà Lạt) nơi còn năm người em ở đấy. Mộ bà ngoại, ông bà cụ cũng ở đấy. Mộ một đứa em chết vì đạp phải bom mìn khi đi làm gỗ trong rừng năm 1981 cũng ở đấy. Còn hai đứa nữa mộ ở Sài Gòn, đã phải bốc mộ để hỏa thiêu, bình tro để trong chùa vì nghĩa trang giải tỏa để dùng vào việc khác.

 

Tôi về kỳ này dự tính sẽ cùng Vy và Hoài đi một vòng thăm đất nước từ Nam ra Bắc. Hai vợ chồng đã có kinh nghiệm đi một lần theo lộ trình tương tự mấy năm trước, nên tôi chỉ việc đi theo, không phải lo nghĩ gì cả. Dự trù đi xe đò Sinh Café từ Sài Gòn ra Hà Nội, với những trạm nghỉ dọc đường như Mũi Né, Nha Trang, Hội An, Huế. Thời gian ở Hà Nội sẽ đi thăm những thắng cảnh nổi tiếng như vịnh Hạ Long, Ninh Binh, Hoa Lư, Phát Diệm… Khi về sẽ đi xe lửa Thống Nhất từ Hà Nội vào Huế, sau đó đi xe đò lên Kontum theo con đường quốc lộ 1b mới mở trên dãy Trường Sơn, rồi tiếp tục đến Pleiku, Ban Mê Thuột và trở về theo con đường băng qua rừng mới phục hồi từ Ban Mê Thuột về Đà Lạt. Vy và Hoài sống ở Đà Lạt từ mấy chục năm rồi.

 

Đây là các địa danh quen thuộc cho khách du lịch. Nhưng riêng tôi, tuy đã sống 36 năm trên đất nước này trước khi ra đi, vẫn có rất nhiều nơi tôi chưa được đặt chân đến. Cũng dễ hiểu, thời chiến tranh di chuyển không dễ dàng, thêm vào đó tôi bù đầu với công việc, còn lúc nào nghĩ đến chuyện du lịch nữa! Còn những tỉnh phía bắc thì đương nhiên không thể đến được trong hơn hai mươi năm đất nước bị chia cắt. Khi thống nhất năm 1975, tôi đã muốn có một chuyến thăm lại Hà Nội xưa, nhưng giấc mơ đã không thực hiện được lúc ấy!

 

Nhưng đó là chuyện quá khứ mấy chục năm trước. Trở lại hiện tại với chuyến đi kỳ này, trong thâm tâm tôi muốn đến một nơi không liên quan gì đến du lịch cả. Đó là một cuộc hành hương thì đúng hơn. Hành hương về nơi chốn tôi đã đi từ cõi hư vô vào thế giới của sự sống. Tôi muốn theo vết chân mẹ tôi đến đảo Bình Ba, ngắm nhìn phong cảnh mẹ tôi đã ngắm nhìn 63 năm trước, hít thở không khí ướp mùi biển mặn mẹ tôi đã hít thở, hứng làn gió mát từ ngoài khơi thổi về, đem đến bao ước vọng ở một tương lai tươi sáng…

 

Trạm dừng chân đầu tiên là Mũi Né, trước kia là một làng chài nhỏ gần Phan Thiết, nay trở thành một khu du lịch rất được khách ưa chuộng, nhất là khách nước ngoài. Sau đó đến Nha Trang, bãi biển vẫn đẹp như hồi nào, tiếc là có cái công trình gì đó khổng lồ xây dở dang bỏ nửa chừng nằm ngay chỗ trung tâm, nghe nói đã như thế từ nhiều năm rồi. Ngày xưa tôi có dịp ghé qua Nha Trang, nhưng chưa khi nào được ở đấy, và vẫn rất thích thành phố biển này.

 

Ngay sáng hôm sau, chúng tôi thuê hai chiếc xe Honda, Hoài lái một chiếc, tôi lái một chiếc chở Vy. Lần về nước kỳ này cũng như hai lần trước, mỗi khi có thể được tôi vẫn thích dùng xe đạp hoặc xe Honda để di chuyển, vừa tìm lại cảm giác thời xưa, vừa có tự do đi đường nào mình thích, ghé chỗ nào mình muốn.

 

Chạy từ Nha Trang ra Ngã Ba Thành, chúng tôi rẽ trái lấy quốc lộ 1 đi về phía nam, hướng Cam Ranh. Hai bên đường ruộng lúa xanh tươi mát mắt. Lác đác những căn nhà gạch xây dở dang. Làng xóm thấp thoáng xa xa. Trời bắt đầu mưa, Vy ghé vào một cây xăng mua ba cái áo mưa bằng nhựa mỏng dính, loại dùng một lần rồi vứt.

 

 

ALan1

Quốc lộ 1, từ Nha Trang vào Cam Ranh

 

 

Đến Cam Ranh lúc nào không biết, vì thành phố trải dài hàng chục cây số dọc theo quốc lộ. Một con đường khác mới khánh thành, song song với quốc lộ, chạy dọc theo bờ biển rất đẹp, xe đò đã qua đấy hôm qua khi đi từ Phan Thiết đến Nha Trang. Nhưng con đường vắng tanh, vì không đi qua làng xã nào cả, trong khi quốc lộ đi ngang Cam Ranh thì đông đúc tấp nập.

 

Cảng Ba Ngòi nằm về phía nam thị xã Cam Ranh. Nhưng trước khi ra bến cảng để đi ra đảo Bình Ba, tôi muốn đến ga Ngã Ba là nơi mẹ tôi ngày xưa đã xuống để chuyển từ con tàu xuyên Đông Dương (transindochinois) chạy từ Sài Gòn ra Hà Nội, qua một chuyến tàu địa phương nối liền ga Ngã Ba và ga Ba Ngòi chỉ cách đó có mấy cây số.

 

 

ALan2

Cam Ranh, một cột mốc cách Ba Ngòi 13 km: cây số 1499 tính từ Hà Nội. Cột mốc từ thời Pháp, bây giờ vẫn vậy.

 

 

Muốn chắc ăn phải hỏi thăm đường người dân ở đấy để đi đến ga Ngã Ba, không thể nào tìm bảng chỉ đường như bên các xứ Âu Mỹ được. Kinh nghiệm cho thấy bất kỳ nơi nào, hỏi thăm người dân địa phương cũng được tận tình và vui vẻ chỉ dẫn.

 

Phải theo một con đường ngoằn ngoèo về phía đất liền, rồi quẹo trái vào một con đường đá, băng qua một cây cầu nhỏ lát gỗ đã bắt đầu mục, khi xe hai bánh đi qua các thanh gỗ nhảy lên xòng xọc như muốn văng ra ngoài! Và rồi nhà ga hiện ra, xinh xắn nổi bật sau lùm cây, có lẽ mới được sơn phết lại. Phía trước nhà ga có một đường rầy xe lửa, có mấy toa xe cũ kỹ nằm trên đó, chắc là đường rầy đi về ga Ba Ngòi ngày xưa. Còn phía sau có hai đường rầy song song, chuyến tàu Thống Nhất vẫn chạy qua đấy.

 

Đường sắt "xuyên Đông Dương" do người Pháp xây dựng trong những năm 1920, 1930 là một kỳ công kỹ thuật thời bấy giờ. Tiếc rằng đường rầy hẹp nên cho đến bây giờ tàu vẫn không thể chạy nhanh được. Và vì chỉ có một đường duy nhất, nên hai chuyến tàu ngược chiều phải đợi nhau ở những nhà ga quan trọng, nơi đấy đường rầy mới tách làm hai để các chuyến tàu tránh nhau.

 

Thấy chúng tôi đến, một người đàn ông trạc ngoài sáu mươi đến chào hỏi xem có giúp được gì không. Tôi nói chỉ muốn đến nhà ga này để thăm một nơi mà mẹ tôi đã đặt chân đến trong một cuộc hành trình quan trọng trong đời bà cách đây hơn nửa thế kỷ. Người đàn ông kể rằng ông đã sống ở đây từ nhỏ, ngay căn nhà bên cạnh nhà ga, là nhà của cha mẹ ông từ xưa. Thời kỳ chiến tranh cũng đã đi lính, sau khi đất nước thống nhất cũng đã phải một thời gian đi cải tạo trong các trại. Và cuối cùng trở lại quê cũ sinh sống cho tới bây giờ. Ông cho biết nhà ga vẫn y nguyên như thời Pháp, chỉ có sơn phết lại cho mới thôi. Nhưng đường xe lửa từ ga Ngã Ba đến ga Ba Ngòi thì đã ngưng hoạt động từ thời chiến tranh, và nhà cửa cư dân mọc lên xóa luôn cả vết tích của con đường sắt này. Hiện nay chỉ còn độ trăm thước đường rầy từ nhà ga ra, trên đó còn đậu mấy cái toa cũ kỹ mà chúng tôi thấy. Ngược lại, hai đường rầy phía sau nhà ga vẫn còn dùng, và xe lửa Thống Nhất vẫn qua đó hằng ngày.

 

Tôi đứng trên sân ga thả hồn về quá khứ, tưởng tượng mẹ tôi bước từ toa xe xuống cái sân ga này. Mẹ tôi có nhiều đồ đạc không? Chắc chỉ có cái va-ly nhỏ, hồi đó làm gì có đồ đạc gì nhiều! Mẹ tôi có phải đợi ở đây lâu trước khi lấy chuyến xe lửa nhỏ vào Ba Ngòi không? Chắc là không, thường người ta cũng tìm cách cho giờ giấc ăn khớp nhau…

 

 

ALan3

Ga Ngã Ba 2007, với đường rầy hẹp của hệ thống xe lửa xuyên Đông Dương từ thời Pháp

 

 

Tôi sẽ còn miên man với những câu hỏi vẩn vơ như thế mãi nếu không có Vy nhắc là phải đến bến tàu Ba Ngòi để còn đi ra đảo Bình Ba.

 

Chúng tôi đến nơi khoảng 11 giờ, và rất ngạc nhiên vì quang cảnh vắng lặng của nơi này. Thường thì bến tàu, nhất là tàu đánh cá chắc lúc nào cũng phải đông đúc chộn rộn chứ ! Có lẽ không đúng giờ chăng? Dưới bến rất nhiều tàu đánh cá, to nhỏ đủ cỡ, có chung một mẫu số là sơn xanh, một màu xanh rất đặc biệt, giữa màu xanh da trời nhạt và màu xanh nước biển đậm.

 

Tôi đã tìm trên mạng Internet để hiểu thêm về đảo Bình Ba trước khi tới đây. Đảo nằm án ngữ cửa vào vịnh Cam Ranh, ở một vị trí rất tốt cho việc bảo vệ vịnh. Đảo gồm hai ngọn đồi nối liền bởi một dải đất hẹp là nơi có làng chài. Những năm gần đây, đảo trở nên trù phú nhờ nghề nuôi tôm, không phải loại tôm thường mà là “tôm rồng” (langouste, spiny lobster). Không phải con “tôm hùm” (homard, lobster) chỉ có ở biển lạnh và có hai càng, con tôm rồng sống ở biển nước ấm, không có càng, thường là rất to, thịt rất ngon. Vẫn theo tài liệu hình ảnh trên mạng, trên một ngọn đồi còn lại một pháo đài xây từ thời Pháp, có tài liệu còn nói chính xác vào năm 1939, khi đệ nhị thế chiến bắt đầu. Chính quyền bảo hộ thời đó lập một căn cứ quân sự trên đảo với những khẩu đại pháo để bảo vệ vịnh Cam Ranh. Ngày nay, người ta có thể lên đảo bằng một chiếc tàu chở khách chạy mất 40 phút.

 

Nhưng tôi đã không xem kỹ trên mạng về giờ giấc của tàu chở khách này, nên khi đến nơi, chiếc tàu đã rời bến lúc 10 giờ, và chuyến sau sẽ đi vào lúc 3 giờ chiều. Thế là lỡ tàu ! Nếu đi chuyến chiều, sẽ không có tàu quay lại trong ngày nữa, nghĩa là phải ngủ lại trên đảo.

 

Đành phải tìm cách khác. Vy và Hoài xuống sát bờ nước tìm gặp vài người chủ tàu còn làm việc trên tàu của họ, và cuối cùng tìm được một người chịu đưa chúng tôi ra đảo Bình Ba và đưa trở về trong ngày. Dĩ nhiên là giá cả đắt gấp nhiều lần giá vé của chuyến tàu khách, nhưng làm cách nào khác được? Vy cũng mặc cả cho có lệ và cuối cùng thỏa thuận trên giá cả.

 

Trước khi lên tàu, người chủ tàu đưa chúng tôi đến nhà một cư dân ở đầu bến để gửi hai chiếc Honda. Nghề giữ xe hai bánh có lẽ là nghề thịnh hành nhất trên cả nước lúc đó, từ thành phố lớn đến thị trấn nhỏ cho đến vùng quê, nơi nào có phố có chợ là có nghề này!

 

 

ALan4

Bến tàu Ba Ngòi 2007. Tác giả và người em rể.

 

 

Trên đường quay lại bến tàu, người chủ tàu cho chúng tôi biết là trong khi chúng tôi gửi xe, có công an biên phòng đến nói với anh ta là muốn gặp chúng tôi. Anh nói thêm, nói nhỏ đủ cho Hoài nghe: "Chắc mẩy ổng muốn kiếm chác gì đó!". Tôi rất ngạc nhiên khi nghe thế. Vẫn biết chuyện hối lộ xảy ra như cơm bữa, nhưng phải có cái gì đó, hoặc nhờ vả, hoặc có chuyện gì bất chính cần cho qua, đằng này đi tàu ra thăm đảo sao lại phải hối lộ? Vả lại tôi chưa khi nào biết hối lộ, vợ chồng Hoài và Vy cũng vậy, nên nếu muốn cũng chẳng biết phải làm sao!

 

Thôi đành gặp xem họ muốn gì. Lúc đó tôi mới để ý có một đồn công an biên phòng ngay trên bến tàu. Ba người chúng tôi bước vào, được một người công an mời chúng tôi ngồi trước một cái bàn làm việc. Anh công an lấy ra một hồ sơ và đưa cho chúng tôi xem một tấm giấy của chính quyền quy định đảo Bình Ba và cảng Ba Ngòi là những địa điểm thuộc vùng biên giới, là những “xã biên phòng”. Rồi cho chúng tôi xem một tờ giấy khác quy định người nước ngoài muốn đến các nơi biên phòng này phải có giấy phép đặc biệt của bộ Công an. Anh hỏi tôi có giấy phép đó hay không (i).

 

Tôi nói tôi không phải người nước ngoài, tôi là Việt kiều về thăm quê hương. Anh công an đòi xem hộ chiếu. Tôi đưa hộ chiếu Pháp. "Anh gốc là người Việt Nam, nhưng bây giờ anh có hộ chiếu của Pháp tức là anh có quốc tịch Pháp, như vậy anh là người nước ngoài." Tôi cãi lại: "Tôi có quốc tịch Pháp, nhưng tôi vẫn còn quốc tịch Việt Nam, chính các ông công an ở trung ương khẳng định với tôi như thế khi tôi phải làm việc với họ 5 năm về trước." "Anh có hộ chiếu Việt Nam không? Anh có thẻ chứng minh nhân dân không? Nếu không thì đối với luật pháp anh là người nước ngoài." Có nghĩa là tôi phải về xin phép với bộ Công an cho tôi ra đảo Bình Ba, và giấy phép này, nếu được cấp, cũng phải mất mấy ngày là ít!

 

Tôi không tưởng tượng được lại gặp phải một chướng ngại giờ chót như thế. Nhưng làm sao bây giờ? Nếu biết trước có thể đã nhờ người chủ tàu "điều đình phải trái" cho xong chuyện, nhưng thật tình trong thâm tâm tôi vẫn không muốn làm kiểu đó.

 

Để tự an ủi, tôi nghĩ thôi không đi cũng được, vì gió có vẻ muốn thổi mạnh hơn, mưa vẫn lâm râm, chắc là biển cũng bắt đầu động, và thế nào tôi cũng bị say sóng. Đây là một cái chứng – nếu không muốn nói là bệnh – làm tôi khổ sở từ nhỏ mỗi lần phải đi đâu xa. Bất cứ đi xe đò khi xe lên đèo, hay đi máy bay lúc bị lắc lư, tôi bị "say xe", "say máy bay", còn tàu thuyền thì chỉ cần đặt chân lên là đã khó chịu rồi, nếu biển động thì mặt mày xanh xám và ói mửa là chuyện cầm chắc trong tay!

 

Nhưng Vy và Hoài thì rất bực tức về chuyện này. Hồi nào tới giờ có khi nào nghe nói đến các "địa phận biên giới" cần bảo vệ không cho người nước ngoài đến? Việt Nam đang khuyến khích du lịch, đảo Bình Ba nằm chơ vơ hẻo lánh như thế thì có gì phải cấm? Hai vợ chồng chắc chắn là công an sẽ không hỏi gì nếu ông anh không có khuôn mặt giống Tây. Và cũng chắc chắn rằng đây chỉ là một cách để vòi tiền…

 

Riêng tôi không còn nghĩ đến những chuyện bủn xỉn ấy nữa. Tôi đứng trên bến tàu, kéo cổ áo ngoài lên cao che bớt gió. Tôi đã đi hơn bốn chục cây số bằng xe hai bánh, dưới trời mưa tầm tã, một cuộc hành trình khá vất vả, tôi đã dành riêng một ngày để viếng thăm nơi mà mẹ tôi đã trải qua những ngày then chốt của đời mình. Vậy mà bây giờ tôi phải đứng đây chịu trận, vì một lý do không thể nào ngờ có thể xảy ra…

 

Tại sao tôi lại không có quyền viếng thăm một nơi ngay trên đất nước của tôi? Tôi đã sinh ra ở đây, tôi đã sống 36 năm đầu đời mình trên quê hương này, tôi đã làm việc, đã yêu, đã vui, đã buồn, đã đau khổ, đã sung sướng… tóm lại đã sống hết mình trên mảnh đất này. Tôi có phải là "người nước ngoài" đâu! Tôi có khi nào chối bỏ tôi là người Việt Nam đâu! Ngay cả trên pháp lý, tôi có khi nào từ khước quốc tịch Việt Nam đâu, mặc dầu tôi có hộ chiếu của Pháp và hộ chiếu của Mỹ. Năm năm trước đây, chính công an ở Sài Gòn đã khẳng định với tôi – khi họ dọa kết tội tôi theo điều 88 của bộ luật hình sự là tuyên truyền chống chính quyền – rằng tôi sẽ bị xét xử theo luật pháp của Việt Nam với tư cách là một công dân Việt Nam kia mà!

 

Nhưng sự thật rất phũ phàng: tôi chỉ được đứng trên bến tàu này, nhìn ra biển mênh mông mờ mịt trong mưa bụi, phỏng đoán qua làn mưa một hòn đảo ẩn hiện đâu đó. Hòn đảo định mệnh. Hay là mẹ tôi ở đâu đó không muốn cho tôi đi đến đấy, không muốn cho tôi đặt chân lên hòn đảo đã làm mẹ tôi xót xa. Phải rồi, chắc là thế. Chắc chắn là như thế!

 

Tôi vẫn không biết rõ lý do tại sao mẹ tôi rời bỏ hòn đảo chỉ sau thời gian quá ngắn. Mẹ tôi không muốn nói ra, hay là ký ức mẹ tôi cũng đã phai nhòa… Tôn trọng mẹ nên tôi không khi nào hỏi gặng về chuyện này. Không khi nào hỏi. Một lần duy nhất năm 17 tuổi, ngồi dưới giàn hoa trước căn nhà thuê ở Kontum, mẹ tôi đã đi vào chi tiết những gì xảy ra thời đó. Nhưng chỉ là chi tiết những sự việc bên ngoài thôi, còn tận đáy lòng, những tình cảm như thế nào thì mẹ tôi không muốn khơi lại nữa. Bây giờ đứng đây nhìn về phía đảo, tôi chỉ có thể phỏng đoán…

 

Có phải là do hòn đảo có khí hậu khắc nghiệt với gió hú ngày đêm? Hay là vì sự khác biệt quá lớn về văn hóa tây phương và đông phương? Hay là đơn giản hơn, vì mẹ tôi cảm thấy có cái gì đó làm cho tình yêu không bắt rễ được, và đã như thế thì nên chia tay sớm còn hơn để kéo dài một sự ngộ nhận?

 

Nghĩ tới đây, tôi cảm thấy trào dâng trong lòng một niềm thương vô hạn đối với mẹ tôi, một tình cảm tôi chưa từng có trước đây. Nhưng đã quá trễ, vì mẹ tôi đã ra người thiên cổ từ nhiều năm rồi. Tôi đã sống suốt cuộc đời mình mà chẳng khi nào đặt câu hỏi là mẹ mình có cảm xúc gì khi mang nặng đẻ đau ra mình không. Và phải đến giờ phút này, đứng ngay chỗ mà 63 năm trước, mẹ tôi đã leo lên tàu đi ra hòn đảo định mệnh, tôi mới mường tượng được tất cả nỗi thất vọng ê chề của một người con gái chỉ mong muốn có một gia đình êm ấm, mà cuối cùng thì, 17 ngày sau, người con gái đó đã phải quay về bến tàu này để rồi không khi nào còn trở lại hòn đảo là nơi tôi đã được nhen nhúm làm người.

 

______________________________

 

i Câu chuyện này xảy ra năm 2007, vài năm sau đảo Bình Ba trở thành một địa điểm du lịch được các công ty du lịch giới thiệu rộng rãi. Không biết khách nước ngoài có phải xin phép đặc biệt của Bộ Công an để đến đây du lịch hay không.

footer_banner_5