Thứ tư, 08 22nd

Last updateThứ 3, 21 08 2018 1am

Lịch sử - Văn hóa

Cha Vô Danh: Phải chăng là bốc đồng? (P. 3)

 

"Bây giờ nghĩ lại, mợ không hiểu sao hồi đó mợ dám liều lĩnh như thế! Càng nghĩ lại càng thấy kinh hoàng cho sự liều lĩnh của mợ… nhưng sự thật nó là như thế! Phải chăng là vì bốc đồng mà mợ dám một thân một mình ra đi?"

 

 

De_pre_inconnu-PhamNgocLan

.

 

"De Père Inconnu” (“Cha Vô Danh”) của tác giả Phạm Ngọc Lân được nhà xuất bản lớn L’Harmattan ở Paris xuất bản và phát hành đầu tháng 2-2015

 

 

1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10- 11- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20- 21- 22- 23- 24-

25- 26- 27- 28- 29- 30- 31- 32- 33- 34- 35- 36- 37- 38- 39- 40- 41- 42- 43- 44- 45- 46- 47- 48-

 

***

 

Phải chăng là bốc đồng? - 1943

(Chuyện kể của người mẹ)

 

 

Bà ngoại con theo ông Phó qua Lào làm ăn vì ở lại quê không biết làm gì để sống, ông Phó đâu phải tay làm ruộng! Trong thập niên 30 nhiều người phải bỏ làng ra đi vì kinh tế khó khăn. Ngày xưa, theo truyền thống gìn giữ đất hương hỏa để thờ cúng ông bà tổ tiên, phải bỏ quê đi như thế là một nỗi bất hạnh lớn. Nhưng với ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, các truyền thống cũ cũng nhạt dần, bắt đầu từ Nam kỳ là một thuộc địa Pháp, dần dần lan ra Trung kỳ và Bắc kỳ là hai xứ bảo hộ. Những người nghèo khổ ở lưu vực sông Hồng theo phong trào mộ phu đi vào trong Nam, vào vùng cao nguyên hoặc bên Cao-Miên làm đồn điền cao su, hoặc xa hơn nữa qua "Tân Thế Giới" (Nouvelle Calédonie) là một thuộc địa khác của Pháp cần nhân công khai thác hầm mỏ. Cũng có người được tuyển qua Pháp làm thợ thuyền. Người có chút ít vốn liếng và có đầu óc kinh doanh thì qua Lào, qua Xiêm, bây giờ gọi là Thái Lan, tìm cách làm ăn buôn bán.

 

Hai ông bà lấy nhau xong qua Lào làm ăn thất bại, rồi qua Xiêm cũng thất bại nốt ! Chắc là không có đầu óc kinh doanh ! Thế là phải quay về Việt Nam không còn đồng xu dính túi ! Nhưng không về lại quê, mà đi thẳng vào trong Nam, lúc đầu ghé Nha Trang mấy tháng, bà ngoại con làm bánh dày bánh giò bán. Bà ngoại khéo về bếp núc bánh trái lắm, vậy mà cũng không sống lâu được với cái nghề bán bánh này.

 

Cuối cùng vào đến Sài Gòn. May quá, ở đây có nhiều người cùng làng Hà Hồi đã vào làm ăn từ trước nên giúp đỡ hai ông bà trong bước đầu. Ông Phó tìm được việc làm trong hãng thuốc lá Bastos của Pháp, còn bà ngoại con được bà bạn thân từ ngày xưa giới thiệu vào làm may vá trong nhà một ông quan năm người Pháp. Quan năm bây giờ là Trung tá, thời đó sĩ quan cao cấp của Pháp sống như ông hoàng, trong nhà có bồi, bếp, tài xế, người làm vườn, chị hai trông con, cả người may vá nữa.

 

Sau khi ông bà đã có cuộc sống tạm yên ổn, lúc đó mới nghĩ đến ba cô con gái còn để lại ở nhà quê. Mợ là người được mang vào Sài Gòn đầu tiên. Năm đó mợ 17 tuổi, cũng như con bây giờ. Lần đầu tiên rời quê đi vào một thành phố nổi tiếng là "Hòn ngọc Viễn đông", mợ khám phá ra một thế giới hoàn toàn khác với quê mình, một thế giới kỳ diệu!

 

Con không thể tưởng tượng được sự chênh lệch giữa hai cách sống ở làng quê ngoài Bắc và thành phố Sài Gòn thời bấy giờ. Hai ông bà thuê một căn nhà khiêm tốn trong khu Cầu Kho, một khu bình dân gần chợ Cầu Ông Lãnh. Gọi là khiêm tốn nhưng có những tiện nghi mà ở quê không thể nào có được. Lần đầu tiên mợ được hưởng nước máy và đèn điện. Những thứ mà ngày nay người ta xem thường vì nơi nào cũng có.

 

Ở quê ngoài Bắc nước uống là nước mưa được hứng và chứa trong chum, vại, hoặc bể nước nếu nhà khá giả xây được bể. Ngoài ra là nước ao, làm gì cũng chỉ có cái ao, giặt giũ tắm rửa, vo gạo rửa rau… Con cứ tưởng tượng vấn đề vệ sinh trầm trọng tới mức độ nào! Hiếm có nhà có được giếng nước, vì đâu phải chỗ nào cũng có nguồn nước để đào giếng đâu!

 

Căn nhà nhỏ bé nằm trong một khu gần chợ Cầu Ông Lãnh, là một chợ buôn bán sỉ rất lớn ở Sài Gòn thời bấy giờ, nằm ngay bên bờ con kinh lớn nối liền với các sông rạch miền Tây. Mỗi buổi sáng tinh sương chợ đã họp đông đúc, hàng hóa chuyển từ dưới thuyền lên bờ rồi chở xe đi các chợ khác. Thời đó phương tiện chuyên chở chính là ghe thuyền từ Lục Tỉnh lên Sài Gòn. Đủ loại hàng hóa, từ gạo, tôm, cá, thịt, cho đến rau cỏ, trái cây…

 

Mợ được bà ngoại con tìm cho một việc làm cũng giống như bà ngoại, may vá trong nhà một sĩ quan cao cấp Pháp.

 

Sau đó đến lượt dì Đan vào Sài Gòn. Trường hợp dì Đan khác với mợ ở chỗ là vào Sài Gòn để lấy một người làng đã được ông Phó hứa gả từ lâu. Chồng dì Đan đã vào làm ăn trong Nam từ lâu và bắt đầu phát đạt vì từ một xưởng cưa nhỏ đã biết tổ chức thành một hãng cưa xẻ gỗ lớn. Riêng dì Phan phải ở lại quê để chăm sóc mẹ, về sau cũng lấy chồng gần đấy.

 

Còn mợ, bà ngoại cũng lo tìm nơi gả bán cho xong. Một hôm, mợ được giới thiệu với một chàng trai đến chơi nhà, đó là bác Đoàn. Nếu còn ở làng thì không thể nào có chuyện "giới thiệu" kiểu này đâu, nhưng vì sống ở Sài Gòn là một thành phố trong phần thuộc địa Pháp nên phong tục đã theo Tây rất nhiều, mới có chuyện bà ngoại mời một người con trai đến nhà và giới thiệu con gái mình như thế.

 

Bác Đoàn là một "người làng", tức là cùng ở làng Hà Hồi, phiêu bạt vào Sài Gòn làm ăn. Điều này rất quan trọng đối với người ly hương thời đó, vì "người làng" thì mới biết được tông tích gia đình ra sao, còn người lạ thì làm sao biết được? Mà trong việc cưới hỏi, biết gia đình nhau là một yếu tố quan trọng hàng đầu.

 

Bác Đoàn là một người thanh nhã, làm việc cho một cửa hàng lớn của Pháp ở trung tâm Sài Gòn. Mợ cảm thấy hợp với bác ấy ngay, và bác ấy cũng hợp với mợ. Dần dà bác ấy đến thăm thường xuyên hơn và cuối cùng tình yêu nảy nở lúc nào mợ cũng không biết. Bác ấy xin phép bà ngoại đưa mợ đi chơi phố ngày chủ nhật, một chuyện không thể nào có nếu còn ở quê, theo phong tục cổ truyền của mình. Nhưng con nên nhớ đây là thành phố Sài Gòn chứ không phải nhà quê nữa.

 

Có thể nói là mợ đã sống những ngày tháng vui sướng nhất trong đời mợ với bác Đoàn lúc ấy. Từ một đứa bé mồ côi đang sống ở làng quê không thấy một tương lai sáng sủa nào cả, có khi nào mợ dám ước mơ có một ngày sẽ có một chàng trai thanh lịch đem lòng yêu thương mình giữa một thành phố tráng lệ như Sài Gòn?

 

Thật là một giấc mơ thần tiên! Nghĩ cho cùng thì đó cũng chỉ là một giấc mơ bình thường của một người con gái bình thường: có được một người chồng đàng hoàng, nuôi một đàn con kháu khỉnh – là điều mà bà ngoại con hằng mơ ước mà không được vì bà chỉ có một mình mợ là con – lo việc nhà cửa cho tươm tất trong khi chồng mình đi làm kiếm tiền đủ để nuôi gia đình… Có thể giấc mơ này bình thường, nhưng đối với mợ là cả một chân trời mở rộng! Và không thấy một cụm mây đen nào vướng mắc chân trời này cả. Bác Đoàn cũng có cùng giấc mơ đó nên bác ấy hứa với mợ sẽ về nói với cha mẹ đi hỏi mợ.

 

Nhưng cuộc đời có những cái bất ngờ giáng xuống làm con người bị choáng váng không còn biết đằng nào mà đỡ!

 

Khi bác Đoàn về thưa với gia đình để đến gặp bà ngoại hỏi vợ cho con, bác Đoàn bị cha mẹ từ chối thẳng cánh. Lý do là gia đình mợ không môn đăng hộ đối với gia đình người ta. Không phải là gia đình bác Đoàn giàu có hay quyền quý gì, nhưng đó là một gia đình mẫu mực, cha mẹ hết lòng nuôi con cái khôn lớn. Trong khi gia đình mợ chẳng ra làm sao cả : mợ là đứa bé mồ côi cha từ nhỏ, mẹ đi lấy chồng mới rồi theo chồng đi xa bỏ con lại với vợ cả của chồng. Như vậy thì làm sao dạy dỗ con gái công dung ngôn hạnh được? Hơn nữa gia đình bác Đoàn theo đạo công giáo thuần thành, không thể hiểu được bà ngoại con cũng đã theo đạo công giáo khi lấy ông ngoại, vậy mà khi ông ngoại chết lại lấy ông Phó là người bên lương, để mợ lại với gia đình ông Phó, như vậy là về mặt đạo giáo mợ cũng không được dạy dỗ đến nơi đến chốn để có một đức tin vững chắc.

 

Thật là một gáo nước lạnh tạt vào mặt mợ và gia đình mợ! Thời đó chuyện cưới hỏi là như thế, người ta xét gia đình của người con trai hay người con gái là chính, để suy ra tư cách cô dâu chú rể tương lai. Gia đình bác Đoàn chưa khi nào gặp mợ cả, nhưng cách suy nghĩ đơn giản là như vậy.

 

Bác Đoàn cũng đau khổ như mợ vì chuyện bị cha mẹ ngăn cản. Bác Đoàn cũng thấy là xét như vậy là bất công, nhưng bác không phải là con người dám cãi lời cha mẹ trong việc hôn nhân. Bác được giáo dục theo các nguyên tắc cổ xưa, trong đó chữ hiếu quan trọng hàng đầu.

 

Về phần mợ đau khổ vì mối tình đầu trắc trở đã đành, mà còn thêm phẫn uất vì thái độ coi thường của gia đình bác Đoàn đối với gia đình mình. Và khi cảm thấy bác Đoàn hiếu thảo không dám cưỡng lại cha mẹ, mợ quyết định đoạn tuyệt với bác ấy, để rồi lại phải ôm thêm một mối hận nữa…

 

Ngày tháng trôi qua. Khi mợ 21 tuổi, bà ngoại con bắt đầu lo lắng thấy mợ không còn thiết gì đến chuyện lập gia đình, sợ mợ sẽ trở thành "gái già" vì hồi đó con gái lấy chồng vào tuổi mười bảy mười tám là thường. Nhưng mợ không muốn nghĩ gì tới chuyện chồng con nữa, bị thất tình một lần khiến mợ sống khép kín với mọi người. Phải nói trong xóm Cầu Kho cũng có nhiều thanh niên để ý đến mợ, họ gọi mợ bằng Cô Hai, có người có công ăn việc làm đàng hoàng. Nhưng họ có chung một điểm làm mợ không thể thân thiết với họ được: họ có cách ăn nói khác, cách cư xử khác, cách ăn mặc khác. Thời ấy, sự kỳ thị Nam Bắc còn rất nặng nề, những khác biệt trong lối sống đáng lẽ ra không có gì để chia rẽ nhau, cũng là cái hố ngăn cách giữa "người Bắc" và "người Nam". Chắc chắn mấy chục năm đô hộ của Pháp chia nước mình ra làm ba "kỳ" đã có ảnh hưởng lớn đến sự kỳ thị giữa người dân ba miền. Bây giờ con thấy vợ chồng Nam Bắc lấy nhau là thường, chứ thời mợ thì còn hiếm lắm.

 

Phải công nhận hồi đó mợ cũng có suy nghĩ như mọi người, một suy nghĩ bây giờ thấy là thiển cận, nhưng hồi đó xem là bình thường: mợ chỉ có thể lấy chồng người Bắc được thôi. Mà ngoài bác Đoàn ra, mợ không quen biết ai khác cả. Một hôm, một bà bạn thân của bà ngoại, cũng làm việc trong một gia đình người Pháp, bàn với bà: "Cháu nó không chịu lấy chồng người Nam, thế nó có chịu lấy người Pháp không? Tôi biết một sĩ quan trẻ người Pháp muốn tìm vợ Việt Nam đàng hoàng tử tế, nếu cháu nó chịu tôi giới thiệu cho." Lấy chồng Tây? Trời! Mợ sửng sốt khi nghe thế. Mợ biết lối sống của người Pháp vì mợ cũng làm việc trong một gia đình người Pháp, thường xuyên tiếp xúc với họ, nhưng làm sao có thể lấy chồng Pháp được! Phải nói là ở Sài Gòn, chồng Pháp vợ Việt không phải là hiếm, vì Nam kỳ là một thuộc địa Pháp nên ảnh hưởng văn hóa cũng làm cho bớt đi sự kỳ thị. Nhưng ở Bắc kỳ và Trung kỳ, những người đàn bà Việt lấy chồng Pháp bị gọi một cách khinh bỉ là "Me Tây".

 

Mợ từ chối vì nhiều lý do, nhưng lý do chính là mợ sợ bị gọi là Me Tây. Bà ngoại con giải thích rằng chữ « Me Tây » dùng để chỉ những người sống với người Pháp để moi tiền, chứ không phải những cặp vợ chồng lấy nhau đàng hoàng. Bà bạn của bà ngoại con kể ra mấy cặp vợ Việt chồng Pháp sống với nhau hạnh phúc. Chính bà cũng có một cô cháu lấy một sĩ quan trẻ người Pháp, sống sung sướng ở ngay xứ Sài Gòn này. Và anh sĩ quan trẻ này có người bạn đồng đội thấy gia cảnh bạn như thế, cũng muốn tìm một thiếu nữ đàng hoàng người Việt lấy làm vợ. Con phải biết là sĩ quan Pháp qua Đông Dương hồi đó bình thường có thời hạn là hai năm, hết hạn thì về lại mẫu quốc hoặc xin gia hạn thêm, nhưng vì đang là thế chiến thứ hai nên thời gian ở Đông Dương trở thành vô hạn, khi mà chiến tranh vẫn còn tiếp tục. Vì vậy mới có mấy người trẻ tuổi độc thân tìm cách lập gia đình với người Việt để có cuộc sống ổn định hơn.

 

Mợ nhất định không chịu, tới một lúc bà ngoại con phải xẵng giọng: "Có người mai mối cho mày có tấm chồng đàng hoàng mà cũng không chịu thì mày tự lo lấy đi, tao không chứa chấp mày mãi được!"

 

Nghe vậy mợ lại tự ái nổi lên! Bà ngoại con đã bỏ mợ một lần ở nhà quê để theo ông Phó qua Lào qua Xiêm, bây giờ lại định bỏ mợ lần nữa hay sao? Đã vậy thì mợ sẽ tự lo liệu! Nhưng lo làm sao đây? Mợ rối trí điên đầu không biết nghĩ sao… Bà ngoại lại xuống nước dỗ dành, rồi bà bạn làm mối cũng đến dỗ dành, và cuối cùng mợ đành xuôi theo, chấp nhận cho bà quen giới thiệu mợ với người Pháp trẻ kia.

 

Đây là một trung úy, hồi đó gọi là quan hai. Ông ấy đóng đồn trên đảo Bình Ba là đảo ngay cửa vào vịnh Cam Ranh, là một trong ba sĩ quan phụ trách một đơn vị quân đội Pháp bảo vệ vịnh Cam Ranh, thời đó vịnh này cũng đã quan trọng lắm rồi. Ông ấy không về Sài Gòn được nên gửi cho mợ lá thư kèm theo tấm hình, qua trung gian người bạn của ông ấy cũng có vợ Việt Nam sống ở Sài Gòn. Thư viết với lời lẽ lịch sự, nói rõ ý định muốn lập gia đình với một người Việt vì qua mấy năm sống ở Việt Nam rất thích người Việt. Hình cho thấy một chàng trai trán cao, mặt mày sáng sủa, dáng vẻ cương nghị. Mợ cảm thấy yên tâm…

 

Thư qua lại nhiều lần để tìm hiểu, mợ cũng gửi hình cho ông ấy xem mặt, và cuối cùng hai bên đồng ý tiến tới. Ông ấy nhờ bà bạn của bà ngoại làm đại diện nhà trai mua trầu cau lễ vật đem đến nhà để hỏi theo phong tục Việt Nam. Con biết là ngày xưa, lễ hỏi là quan trọng lắm, nhà gái nhận trầu cau là xem như đã chấp nhận cho con gái mình làm vợ người ta rồi.

 

Một ngày đẹp trời tháng tư năm 1943, mợ lấy xe lửa – hồi đó mợ còn gọi theo tiếng Bắc là tàu hỏa – đi ra Cam Ranh. Đường xe lửa gọi là "Xuyên Đông Dương" chạy dọc từ Sài Gòn ra Hà Nội, ngưng ở ga Ngã Ba là nhà ga trước khi đến Nha Trang. Từ ga này, mợ phải xuống tàu và lấy một chuyến xe lửa khác đến ga Ba Ngòi, là một thị trấn ở cửa vịnh Cam Ranh chỉ cách ga Ngã Ba có năm cây số. Ở đấy có xe nhà binh Pháp chờ sẵn đón mợ ra bến tàu, rồi đi ca-nô ra đảo Bình Ba. Bây giờ nghĩ lại, mợ không hiểu sao hồi đó mợ dám liều lĩnh như thế! Càng nghĩ lại càng thấy kinh hoàng cho sự liều lĩnh của mợ… nhưng sự thật nó là như thế! Phải chăng là vì bốc đồng mà mợ dám một thân một mình ra đi?

 

Đồn lính nằm trên một ngọn đồi cao trên đảo, còn khu nhà nằm phía dưới thung lũng cho khuất gió. Đảo này có thể gọi là "đỉnh gió hú" được! Mợ chợt choáng váng vì chưa khi nào tới một nơi hoang dã, gió nhiều như thế. Trước đây mợ ở nhà quê chật chội nhưng ấm áp, rồi sau đó ở Sài Gòn ồn ào mà sống động, còn trên hòn đảo này… Mọi người rất ân cần với mợ, từ người chồng trung úy, một người cao ráo đẹp trai bặt thiệp, đến lính tráng Pháp cũng như Việt đều lễ phép đối với mợ. Hai người sĩ quan kia cũng người Pháp, một đại úy và một thiếu úy cũng cư xử thật lịch sự với một người phụ nữ Việt Nam mà họ gặp lần đầu.

 

Nhưng chỉ được hai tuần… mợ đòi về lại Sài Gòn! Mọi người ngạc nhiên và khuyên bảo hết lời, nhưng mợ nhất định đòi về. Cuối cùng mọi người đành chịu thua, và mợ đã đi ngược lại con đường mới đi hôm trước. Mợ đã bốc đồng khi quyết định ra hòn đảo này, mợ cũng lại bốc đồng khi đòi về. Mợ sống trên đảo vỏn vẹn có mười bảy ngày!

 

Về lại nhà, bà ngoại con và mọi người quá ngạc nhiên. Hỏi mợ tới tấp. Tại sao? Tại sao? Nhưng mợ không nói tiếng nào để giải thích thái độ của mợ. Mợ sống khép kín với mọi người, khép kín với cuộc sống bên ngoài, cho tới một ngày mợ cảm thấy trong người có cái gì thay đổi khác lạ. Mợ đành thổ lộ với bà ngoại con. Bà nhìn mợ lắc đầu…

 

Mợ đã mang thai. Đó là mùa xuân 1943.

footer_banner_5