Đọc “Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi” của Chu Ẩn

Email In PDF.

"...hai trăm, ba trăm năm nữa thì còn bao nhiêu người nói tiếng Việt ở ngoài cái mảnh đất hình cong chữ S nữa? ... Mong rằng thế hệ những đứa trẻ sinh trưởng ở hải ngoại hôm nay sẽ còn nói, sẽ nói mãi tiếng Việt."

 

1tieng_Viet

***

Đọc “Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi” của Chu Ẩn

 

Đỗ Ý Ngọc

 

Nền văn học Việt Nam rất phong phú về ngôn ngữ dân gian, được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, và được các tác giả vô danh trau truốt để trở thành hoàn hảo và tồn tại trong trí nhớ dân gian cho đến ngày hôm nay. Vâng, văn chương bình dân đã tạo được một trời rất thân thương và rất riêng tư cho người Việt.

 

Vào đời nằm trong nôi, trên võng, ta yêu những bài hát ru em của mẹ, của vú. Rồi với những bước chân chim của tuổi học trò, ta thuộc lòng những bài ca dao, đồng giao, dân ca. Giờ đây, không biết bạn có đồng ý với tôi rằng bài thơ “Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi” của Chu Ẩn nghe như một khúc dân ca? Rằng anh đã chọn viết bài thơ này theo một lối viết mà tôi xin được tạm gọi là lối viết theo ca dao, lối viết thơ lục bát Việt Nam truyền thống/cổ điển?

 

Anh tâm sự “Tình Ca Tiếng Nước Tôi” bất hủ của Phạm Duy qua tiếng hát lên trời của Thái Thanh đã khơi nguồn cảm hứng cho anh:

Đêm về nghe Thái Thanh… đã gợi ý tôi làm bài thơ lục bát “Tôi Yêu Tiếng Việt Tôi”, thật đúng vào lúc tôi cần phải “vịn vào thơ mà đứng dậy”.

 

Và anh đã thành công trong việc bộc bạch tâm tình mình. Đọc “Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi”, ta nghe trong ta những kỷ niệm xa xưa lũ lượt trở về, và không khỏi một chút gì xót xa, nghèn nghẹn. Phải chăng đó là nỗi buồn hoài hương mà mỗi chúng ta đang ôm ấp trong lòng?

 

Về mặt cấu trúc thơ, “Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi” là một bài thơ hay, theo thiển ý của tôi, là vì ngôn từ và vì nhạc điệu của nó. Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu, đây lại là một bài thơ lục bát truyền thống, nên cách gieo vần, ngắt câu (thường được hiểu là nhịp điệu hay tiết điệu của bài thơ) là hình thức cấu trúc căn bản mà tôi đi tìm trong bài thơ của anh.

 

1. Anh đã dùng vần và nguyên lý song song (mà ta còn gọi là vế) một cách điêu luyện để tạo âm nhạc, cũng như tạo sự giao duyên giữa thơ và nhạc cho bài hát ru êm ái này.

 

2. Ẩn dụ nọ nối liên tục ẩn dụ kia cũng được anh xử dụng tài tình để tạo hình (non sông gấm vóc), để chỉ một khái niệm (Kinh Thượng êm ấm, nhà nhà yên vui, với một quá trình lịch sử/văn hóa đẹp và đáng trân trọng), qua cách anh dùng những từ thuật hoa mỹ làm đẹp lời thơ.


Vừa mở đầu bài thơ, Chu Ẩn tuyên ngôn ngay lập trường “yêu tiếng Việt” của anh:

 

Tôi yêu tiếng Việt nước tôi

Từ trong bụng mẹ tinh khôi ngày nào

 

Đến khi bài thơ kết thúc, anh vẫn kiên trì giữ vững lập trường “yêu tiếng Việt” của anh:

 

Tôi yêu tiếng Việt của tôi

Của Cha của Mẹ của người Việt Nam

 

Anh lập đi lập lại như thế là vì anh muốn nói lên, với tất cả tâm huyết của mình, cái tình yêu anh dành cho Tiếng Mẹ Đẻ, cái ngôn ngữ đầu tiên mà anh bập bẹ nói trong thời thơ ấu, cái ngôn ngữ mà anh thừa hưởng từ tiền nhân của anh.

 

Xin mời bạn cùng tôi đọc bài thơ “Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi” của Chu Ẩn …

 

Mẹ cha có tình ý với nhau. Tình ý ấy được Chu Ẩn ghi nhận chỉ trong vỏn vẹn 4 câu, 28 chữ. 28 chữ rất tình, rất trữ tình:

 

Mẹ cha cười nói xôn xao

Tình trong lời ngọt, tình vào mắt ai

Tình trên đường cái quan dài

Trên đồng cỏ nội ra ngoài nương dâu

 

Tác giả đã viết về cuộc tình ái này trên N.S. Người Việt Cao Niên, số 57, như sau:

 

Bài thơ lục bát này mang tình tự của đôi nam nữ Việt với cuộc tình tuyệt đẹp trong hình ảnh thanh bình nơi quê hương đồng nội …

 

Thời còn mặc áo trắng học trò đến trường, vào giờ Toán thầy giáo dạy rằng “đường thẳng là đường ngắn nhất nối liền hai điểm”. Sau giờ Toán đến giờ Việt Văn, tôi lại lòng bảo lòng rằng “thơ là cây cầu ngắn nhất cho con tim nối liền con tim”, rằng “thơ là con đường tình, mãi mãi là lối mòn hạnh phúc của trai gái”. Chả thế mà khi đôi trai tài gái sắc yêu nhau, nàng thơ thường đến gõ cửa. Họ cắn bút tập tành làm thơ (hoặc mượn thơ của mấy ông thi sĩ) để tỏ tình, để nuôi tình. Thơ là hơi thở chung của họ.

 

Cha đặt trầu cau, cưới hỏi Mẹ, rồi xây tổ ấm cùng người yêu: “rằng a í a đưa nàng, anh đưa nàng về dinh”, như câu ca trong bài “Lý Ngựa Ô”. Khi màn đêm xuống, khi người nam nằm cạnh người nữ xinh đẹp, người tình trong mộng của mình, thì “nàng thơ” nhắc đến ở trên giờ chỉ còn là lời nói suông. Vào cuộc với các thứ chuyện yêu đương, khi cần vượt qua cái lằn phân chia để từ chay anh bước sang mặn, Chu Ẩn ghép cụm từ ‘hạt-mộng-con” để ghi lại cuộc giao hoan giữa tiên (hay chim?) và rồng, giữa trời và đất. (Tôi đoán già đoán non là Chu Ẩn ghép “hạt-mộng-con” vì tôi chưa từng nghe hoặc đọc cụm từ này. Xin anh giúp đính chính nếu đây là một điều sai lầm của tôi.)

 

Tình cờ anh gặp em đây

Như sông gặp nước như mâu gặp rồng

 

Từ cái duyên khởi tình cờ ấy, ta sinh ra làm người Việt Nam, cộng nghiệp với hàng chục triệu người Việt khác. Ta được dạy bảo và lớn lên trong tình thương của mẹ cha, anh em, bạn bè, làng xóm. Trí tuệ của đứa trẻ trong ta được mở mang, song song với trái tim và tâm hồn người Việt trong ta được hun đúc. Rồi cũng từ cái định mệnh ấy, ta đã trở thành nhân chứng cho một trong những biến cố quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam trong hơn bốn ngàn năm lập quốc, tồn tại và phát triển. Thân phận đất nước ta cưu mang một nỗi đau trải dài. Tránh trời không khỏi nắng, số mệnh ta nằm trong vận mệnh chung của cả dân tộc.

 

Nói đến văn minh Việt là nói đến nền văn minh lúa nước, từ đồng bằng sông Hồng Hà phía bắc đến đồng bằng sông Cửu Long phía nam. Nhân vật chính của nền văn minh này chính là người nông dân, những người sống về nghề trồng lúa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong khung cảnh đồng ruộng của một xứ nóng, trong cuộc sống hàng ngày, cảnh mẹ nằm võng ru con ngủ trong buổi trưa hè oi bức hay trong đêm thanh gió mát là một hình ảnh gần gũi và thân thương.

 

Cứ thế, ta còn lớn lên nhờ những bài hát ru con. Hát để ru con ngủ nên thường chúng là những bài hát trong sáng và đơn giản, như ca dao, đồng dao, hoặc những câu hò. Để rồi, tiếng hát ru con của mẹ tạo thành cái nôi bình an vô sự cho tuổi đầu đời của ta và gây ấn tượng sâu sắc trong suốt cả cuộc đời còn lại của ta:

 

Mẹ lên giọng hát mặn mà ru con

Me ru nước, Mẹ ru non

Ru xanh ngọn mạ, ru son cột đình

Tiếng Mẹ ru nước Việt xinh

Tiếng ru của Mẹ muôn đời bên nôi

v.v. và v.v.

 

Nguyễn Bính bắt đầu bài “Lỡ Bước Sang Ngang” bằng câu ca dao:

 

Em ơi em ở lại nhà

Vườn dâu em đốn, Mẹ già em thương

 

Như đã nói ở trên, Chu Ẩn đã chọn lối viết thơ lục bát theo ca dao. Nên không lạ khi anh đã dùng cái đẹp của câu ca dao “gió đưa cành trúc la đà” bằng cách đưa nó vào thơ anh:

 

Gió đưa cành trúc la đà

Mẹ lên giọng hát mặn mà ru con

 

Vì cây trúc, cây tre là hình ảnh của làng mạc Việt Nam:

 

Gió đưa cành trúc la đà,

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.

Mịt mù khói tỏa ngàn sương,

Nhịp chày Yên Bái, mặt gương Tây Hồ.

 

Từ hình ảnh đến sắc mầu, đất nước đẹp như một bức tranh trong thơ Chu Ẩn. Thơ anh làm người đọc càng thêm yêu và nhớ làm sao một trời quê hương bỏ lại. Ví dụ cách anh ví von về “mẹ ru” hay quá, nhưng cũng rất “ca dao”:

 

Mẹ ru nước, Mẹ ru non

Ru xanh ngọn mạ, ru son cột đình

 

Với sức thuyết phục ấy, tôi như thấy trước mắt, với mỗi lời mẹ ru, mạ non càng ngày càng xanh thêm và màu son của cột đình càng ngày càng đỏ hơn …

 

Son cột đình” có đẹp bằng đôi môi gợi cảm của người phụ nữ? Trong mắt Chu Ẩn, anh thấy “sao trên trời” trong cái đẹp của người cô phụ:

 

Nàng Tô Thị đẹp như sao trên trời

 

Hòn Vọng Phu là hóa thân của một người phụ nữ tên Tô Thị, một di tích, một thắng cảnh gần chùa Tam Thanh, thuộc một thành phố biên ải của tỉnh Lạng Sơn:

 

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh?

Bõ công bác mẹ sinh thành ra em

 

Tô Thị là một cái tên, một nhân vật trong câu chuyện cổ tích Việt Nam, được kể lại khi thì thế này, khi thì thế khác. Phiến phiến thì là nàng nhớ khôn nguôi người chồng đi chinh chiến, đã bế con lên núi ngóng trông. Nàng cứ ngóng, ngóng mãi, nhưng người chồng thì không về như đã hẹn, còn nàng thì hóa thành đá. Hình hài như một pho tượng, nàng vẫn tưởng nhớ, trông chờ chồng. Với thời gian, người đời thường biết đến nàng qua cái tên “Hòn Vọng Phu”.

 

Có lẽ chẳng mấy ai tin vào tính cách xác thực của sự tích Hòn Vọng Phu huyền thoại này. Nhưng nó cứ được truyền từ đời này qua đời khác (cái thứ ngôn ngữ dân gian) như một lời nhắc nhở, và như một sự gửi gấm lòng cảm phục trước cái phẩm hạnh thủy chung của người phụ nữ Việt Nam.

 

Đầy thi tính và rất trữ tình, Chu Ẩn lồng vào thơ anh nàng Tô Thị. Anh nhắc đến một điển tích/điển cố (nghĩa là những tích truyện xưa, thường là kể về các tấm gương hiếu thảo, thủ tiết thờ chồng, anh hùng liệt nữ …) của người dân Việt. Điển tích này cũng gợi tôi nhớ đến bộ ba ca khúc “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương, một trong những trường ca đầu tiên và nổi tiếng nhất trong nền tân nhạc Việt Nam mà tôi rất yêu thích.

 

Thi thoảng vẫn thế. Mấy mươi năm nay, sống nửa vòng trái đất cách xa nơi tôi sinh ra và lớn lên, nhưng những giọng nói thân yêu của một quá khứ trẻ thơ xa xưa vẫn âm thầm vượt không gian và thời gian tìm về bên tai tôi. Hôm nay thì khác. Có cái gì như thể thiếu vắng, không sao lắp đầy được, đóng băng trí não tôi … tôi đang thèm được nghe U Già kể chuyện cổ tích … bằng cái giọng chân quê của một người đàn bà Bắc Kỳ.

 

Khi nào tiếng Việt còn tồn tại, thì nước Việt và văn hóa Việt còn tồn tại, như Phạm Quỳnh đã nói: “Tiếng Việt còn, nước Việt còn”.

 

Mẹ lên giọng hát mặn mà ru con

“Tiếng Việt còn, nước Việt còn”

Đồng giao Nam, Bắc vuông tròn sắt son

 

Yêu tiếng Việt thì xin nói tiếng Việt, viết tiếng Việt. Với tôi, đoạn thơ này thật cảm động. Chả trách Chu Ẩn một đời chơi đùa với chữ nghĩa. Tôi mường tượng anh thở tiếng Việt, cười tiếng Việt, vì tim anh đập nhịp tim Việt:

 

Tiếng Việt là tiếng Cha cười

 

Tôi nghe như anh còn nói, anh sẽ nói, sẽ nói mãi mãi: “Tôi yêu tiếng Việt nước tôi”. Và tôi cũng như nghe nhiều tiếng người gọi nhau quanh tôi, nhưng không bằng “tiếng Việt nước tôi”. Với năm tháng rồi càng lùi dần, lời nói hôm nay của người Việt xa quê hương rồi cũng sẽ ba chìm bảy nổi như thân phận, cuộc sống của những kẻ tha hương trên đất khách.

 

Một trăm năm nữa thì chắc còn nhiều. Chứ hai trăm, ba trăm năm nữa thì còn bao nhiêu người nói tiếng Việt ở ngoài cái mảnh đất hình cong chữ S nữa? ... Mong rằng thế hệ những đứa trẻ sinh trưởng ở hải ngoại hôm nay sẽ còn nói, sẽ nói mãi tiếng Việt.

 

Đỗ Ý Ngọc

***

 

Phụ chú 1: Nói Chuyện Với Chu Ẩn


ĐYN: Có ai đó đã nói rằng: “Mỗi một nghệ sĩ đều bắt đầu như một người nghiệp dư”. Vậy xin anh Chu Ẩn cho biết anh đã bước vào nghiệp viết lách khi nào và trong hoàn cảnh nào?

-  Cám ơn chị Ý Ngọc đã cho tôi cơ hội chia xẻ tâm tình. Tôi bắt đầu lạc bước vào nghiệp viết lách như một người nghiệp dư từ phong trào “sinh hoạt hè 1966”. Tôi may mắn được sinh hoạt chung với các bậc thầy như: GS Nguyễn Tử Quý, nhà báo Đỗ Ngọc Yến, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Gs nhà văn Doãn Quốc Sĩ… Ảnh hưởng từ các bậc thầy này và phong trào yêu nước của giới trẻ lúc ấy thôi thúc tôi cầm bút.

 

ĐYN: Anh nghĩ gì khi anh ở vị trí một người viết bằng “tiếng Việt nước tôi” ở ngoài quê hương? Độc giả của tiếng Việt ở hải ngoại là ai?

 

-  Khi tôi được định cư ở TP này, vì hoàn cảnh tôi phải đi làm ngay trong một công ty bản xứ nên ít có dịp dùng tiếng mẹ đẻ. Tôi nhìn ra nguy cơ là thế hệ con cháu sẽ dễ dàng quên tiếng Việt. Tôi đã cố gắng ra tờ báo nhỏ như một tờ bulletin viết bằng ‘tiếng Việt nước tôi’ đối tượng dĩ nhiên là người Việt mình với hy vọng tiếng Việt và chữ Việt sẽ còn trong giáo dục gia đình người Việt chúng ta.

 

ĐYN: Chuyện hư thực ra sao khi anh viết trên N.S. Người Việt Cao Niên, số 58 (tháng 10, 2012), rằng: “Người viết mong có người tiếp sức chia sẻ để duy trì tờ báo đang trên đà phát triển …” Tự gác bút, không viết nữa. Có thể nào anh sẽ lại nhớ “bút” như “nhớ ai như nhớ thuốc lào / đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên” không?

 

-  Đã tạm gọi là nghiệp dư rồi thí bỏ làm sao được thưa chị? Mình chỉ mong có người tiếp sức để mình có thời gian viết cho riêng mình. Già yếu rồi, trên bẩy bó còn sức đâu nữa, sẽ chỉ viết lai rai thôi.


 

  Phụ chú 2: 


Tôi Yêu Tiếng Việt Nước Tôi

 

Chu Ẩn

vào Thu 1992

 

Tôi yêu tiếng Việt nước tôi

 

Từ trong bụng Mẹ tinh khôi ngày nào

 

Mẹ Cha cười nói xôn xao

 

Tình trong lời ngọt, tình vào mắt ai

 

Tình trên đường cái quan dài

 

Trên đồng cỏ nội ra ngoài nương dâu

 

Yêu Mẹ, Cha đặt trầu cau

 

Ca dao giọng hát bên nhau ngọt ngào

 

Lời yêu đêm ấy tuôn trào

 

Cha ươm hạt-mộng-con vào động hoa

 

Gió đưa cành trúc la đà

 

Mẹ lên giọng hát mặn mà ru con

 

“Tiếng Việt còn, nước Việt còn”

 

Đồng giao Nam, Bắc vuông tròn sắt son

 

Mẹ ru nước, Mẹ ru non

 

Ru xanh ngọn mạ, ru son cột đình

 

Tiền nhân vẫy gọi bên mình

 

Theo giòng lịch sử tâm tình non xanh

 

Tiếng Mẹ ru nước Việt xinh

 

Trường Sơn hùng vĩ riêng mình hiên ngang

 

Hồng Hà đỏ, Cửu Long vàng

 

Sai Gòn ru Huế, Hương Giang đậm tình

 

Hà Nội chùa tháp khoe mình

 

Đồng Đăng xứ Thái xanh tình non cao

 

Kinh Thượng cùng bọc đồng bào

 

Nàng Tô Thị đẹp như sao trên trời

 

Tiếng Việt là tiếng Cha cười

 

Tiếng ru của Mẹ muôn đời bên nôi

 

Tôi yêu tiếng Việt của tôi

 

Của Cha của Mẹ của người Việt Nam